Góc nhỏ


 
Trang ChínhPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

"TRÀNG GIANG" - HUY CẬN Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Bình chọn cho bài viết:

avatar
maitrinh_93
MODERATION
MODERATION
Nữ
Age : 24 Registration date : 07/07/2008 Tổng số bài gửi : 716 Đến từ : Lớp A3 - Trường THPT Hoàng Hoa Thám Công Việc hiện nay : Đi học + Tiểu nhị "Cháo Vịt Shop" Sở thích : Online !!!!


Bài gửiTiêu đề: "TRÀNG GIANG" - HUY CẬN Wed Aug 06, 2008 11:14 am
Bình giảng 4 câu kết bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

… “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.



BÀI LÀM

“Lửa thiêng” (1940) của Huy Cận là một tập thơ sáng gía rong “Thơ mới” Việt Nam. Phong cảnh trong “Lửa thiêng”, nhất là trong các bài thơ “Vạn lý tình”, “Tràng giang”, “Đẹp xưa”… đều đượm một nỗi buồn man mác:

“Tới ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy trên đê..”

Đó là con sông Thâm bên núi Mồng Gà thuộc Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh, quê hương thân yêu của nhà thơ. Trong “Tràng giang”, một nỗi buồn như dồn nén thấm sâu vào cảnh vật và lan xa muôn vàn con sóng nhất là bốn câu kết của bài thơ:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa,

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Bao trùm cả bài thơ là một không gian nghệ thuật bao la, thật đẹp và cũng thật buồn. Có “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Có “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”. Có “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…Và trước mắt nhà thơ là một khung cảnh bao la, vắng vẻ: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Khổ cuối nói đến hoàng hôn trên tràng giang. Một cái nhìn xa vời vợi. Trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên, đùn lên “lớp lớp” màu trắng bạc. Cảnh sắc thiên nhiên rất tráng lệ. Bầu trời chắc là xanh thẳm, hoạc tìm thẫm trong khoảng khắc hoàng hôn nên màu mây ở cuối chân trời mới ánh lên màu “bạc” ấy. Giữa cái bao la mênh mông bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi. Cánh chim đang chở nặng bóng chiều, bay vội vã. Trên cái nền tím sâm, nhạt nhoà của bóng chiều hôm, hiện lên những núi bạc mây cao và một con chim lạc đàn “nghiêng cánh nhỏ”. Hai nét vẽ ấy tượng trưng cho những cảnh chiều hôm trong tâm tưởng người lữ thữ: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi…” (Bà Huyện Thanh Quan), “Chim hôm thoi thót về rừng…”(Nguyễn Du). Nghệ thuật tương phản giữa cánh chim nghiêng nhỏ bé và mờ xa dần với núi mây bạc hùng vĩ, với trời đất bao la đã làm cho cảnh đất trời và tràng giang thêm mênh mông hơn, xa vắng hơn, và cũng buồn hơn.

Bốn câu kết mang ý vị cổ điển rất đậm đà. Ý vị ấy, màu sắc ây được thể hiện ở hình ảnh nhà thơ một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vô cùng của không gian, thời gian đối với kiếp người hữu hạn. Một cánh chim, một núi mây bạc… cũng dẫn hồn ta đi về mọi nẻo, đến với mọi phía chân trời: “Lưng trời sóng rợn lòng sống thẳm - Mặt đất mây đùn cửa ải xa” (Đỗ Phủ). Ý vị cổ điển ấy lại được tô đậm bằng một tứ thơ Đường:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Hơn mười hai thế kỷ trước, trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu đã viết:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

(Tản Đà dịch)

Huy Cận nhìn cao rồi nhìn xa theo tràng giang “vời con nước”. Ở trên nhà thơ đã phủ định: “Mênh mông không một chuyến đò ngang” – “Không cầu gợi chút niềm thân mật…” thì ở đây, ông lại nói: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nỗi buồn cô đơn và nỗ nhớ quê tràn ngập tâm hồn khách tha hương trong buổi hoàng hôn, bên dòng sông đang mải miết trôi vè tận phương nào xa xôi.

Thơ Huy Cận hàm súc, cổ điển và thấm đẫm màu sắc triết lý suy tưởng. Một hồn thơ bơ vơ, sầu não ấy luôn hướng tới sự giao hoà giữa con người và tạo vật trên một không gian mênh mông, vắng lặng. Cảnh sắc trong “Tràng giang” Đẹp mà buồn. Tình quê, “lòng quê” trong bốn câu kết thật vô cùng sâu sắc, thắm thiết. Đó là những vần thơ mãi mãi vương vấn lòng người trong mọi thời gian và không gian.

Thơ thất ngôn trong “Tràng giang” mang vẻ đẹp cổ kính, trang trọng. Mỗi khổ thơ nếu đứng tách riêng ra sẽ trở thành một bài tứ tuyệt thể hiện sâu sắc cảm hứng mà tác giả đã viết trong lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nỗi buồn bâng khuâng và nỗi nhớ ấy là của một tấm lòng đang hoài vọng quê hương. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng như muôn ngàn sóng gợn “buồn điệp điệp” trong lòng người đọc bấy lâu nay. Cảnh sắc hoàng hôn và lòng quê được nói đến trong đoạn thơ mãi mãi khơi gợi trong ta hình bóng quê hương yêu dấu. “Tràng giang” đã và đang mang theo bao vạn lý tình trong hồn ta…

Bài đọc thêm

TRÀNG GIANG

Điểm cao trong luồng thơ tạo vật với tâm tình này chắc hẳn là bài “Tràng giang”; thiên nhiên tạo vật ở đây là đất nươc rồi, đất nước của ta. Bài thơ hầu như trở thành cổ điển, của một nhà “thơ mới”. Vào một cách dõng dạc đàng hoàng, vì đây là “đại giang”, là sông lớn, ví dụ như sông Hồng; là tràng giang; rộng, bao gồm cả trường giang; dài; sầu trăm ngr chứ không phải ít ngả, vì là sông lớn:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Hơi thở cổ điển là đúng, bởi sông lớn là giang san bền bỉ muôn đời. Duy câu thứ tư thì hiện đại; thơ truyền thống của cha ông ta không đưa cái nét hiện thực, thực tế, nôm na, chân thật đến sống sít, là cải một cành trôi đi trên sông.

“lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Tâm lý của thơ trữ tình công khai nói chung trước cách mạng là nói nỗi buồn; Huy Cận cũng muốn làm nổi bật cái “dài”, “rộng” và “cô liêu”, cho nên phủ định, đến cả một chuyến đò ngang, đến cả một chiếc cầu, chỉ có bờ bờ bãi bãi. Và đây là tâm trạng trước cách mạng: “bèo dạt, hoa trôi”, những số kiếp con ngời trôi dạt trên con sông Thời gian:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang,

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Bốn câu kết:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”

điệp điệp, song song, rồi lớp lớp, lại nhắc cái trang nghiêm của hai câu thơ mở đầu, bởi đây là không khí của sự lớn lao.

“Chim nghiêng cánh nhỏ; bóng chiều sa”.

Ở nửa trên bài: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”, trưa đã ngả sang chiều, nhưng còn nhiều ánh sáng lắm, có vậy mới thấy được thật xa, mênh mông; đoạng cuối bài thì là càng gần về hoàng hôn, con chim đang xoè cánh bay, bóng chiều sa nặng đến nỗi nó phải nghiêng cánh, lệnh cánh: cũng là lúc:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Câu thơ Thôi Hiệu: “Yên ba giang thượng sử nhan sầu” (Tản Đà dịch: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”),do đó. Huy Cận nói cao độ hơn: có khói trên sông, đã đành là nhớ nhà; ở đây nhớ nhà cao độ, không cần phải có khói hoàng hôn mới gợi nhớ - Cả bài thơ thúc lại ở hai câu kết này; cái điệp từ cuối cùng “dờn dợn” nói lòng quê bát ngát mênh mông, sông càng vời rộng, càng nhớ quê hương. “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông, đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Giang sơn, Tổ quốc. (Xuân Diệu)
Xem lý lịch thành viên http://download.com.vn
"TRÀNG GIANG" - HUY CẬN Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum: Bạn không có quyền trả lời bài viết
Góc nhỏ  :: 

GÓC HỌC TẬP

 :: 

GIÁO DỤC- THI CỬ

 :: 

Tin tức giáo dục

-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | www.sosblogs.com